Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Chánh Tinh Tấn



Chánh Tinh Tấn

Đừng có nói với tôi là cụ đó sống được 80 tuổi, hồi trẻ bôn ba tới hồi về già 50-60 tuổi cụ dẹp hết cụ chuyên tâm niệm Phật, tu hành tinh tấn. Mình nghe mình tưởng ngon lắm. Nhưng mà không phải đâu. Trong tinh thần Phật Pháp, cái đoạn cuối đời nó sẽ rất là tuyệt vời khi trước đó mình đã có trớn. Tu học hồi trẻ thì nó có cái trớn đó, thì càng về già thì gừng càng già càng cay. Người mà biết Phật Pháp càng lâu năm, nó cô, nó sắc lại, cái tuổi già của họ nó biến họ thành một món đồ antique, món cổ vật, hiểu không? Còn mà nếu tuổi trẻ mình không có một cái trớn Phật Pháp thì cái tuổi già mà mình biết Phật Pháp, thì dĩ nhiên thì nó vẫn tốt hơn là học tiếp, nhưng mà nó cũng hơi muộn. Lúc bấy giờ mình chỉ là món đồ cũ thôi quí vị. Nhớ nha. Mình sống mà hồi trẻ không có những chuẩn bị tâm linh tinh thần, tì về già mình thành món đồ cũ chớ không phải đồ cổ. Mặc dù hai cái chữ này nghe nó hơi hao hao, nó từa tựa nhau, hơi giống giống nhau vậy, cũ với cổ, nhưng mà khác nhau nhiều lắm. Đồ cổ là người ta có thể băng rừng, vượt suối người ta tới người ta quì, người ta lạy mình để người ta mua lại cái món đồ cổ. Tại quí vị không có chơi quí vị không có biết chuyện đó. Có nhiều cái món đồ cổ mà người ta sẵn sàng bán nhà, bán đất để mà người ta tới, người ta lạy mình để người ta mua lại. Nhưng mà đã nói đồ cũ thì tình hình nó khác đi nhiều lắm.

Cho nên, ở đây chánh tinh tấn là cái gì? Chánh tinh tấn là nỗ lực đúng chỗ, biến từng phút trong đời trở thành ra là những phút giây giá trị. Một tháng một năm trôi qua là một tháng một năm có giá trị vì một tháng một năm ấy có nỗ lực.

Nỗ lực trong hai điều, bỏ đi cái ác và vun bồi cái thiện. Tứ chánh cần gôm gọn còn có hai điều đó thôi: Nỗ lực bỏ cái gì không cần thiết và vun bồi cái cần thiết. Đó gọi là chánh tinh tấn. Người cư sĩ đương nhiên là cái sự nỗ lực tinh tấn nó không giống người xuất gia. Người xuất gia thì tùy cái hạnh nguyện. Có vị thì tinh tấn để gầy dựng đạo tràng, làm trụ trì, có vị trở thành một thiền sư, có vị trở thành một pháp sư, giảng sư, v.v. Nhưng mà nói chung lại tất cả mọi nỗ lực trong Phật Pháp đều phải nhắm đến hai cái tinh thần: một là tự lợi, đem lại lợi ích cho mình đời này và đời sau; thứ hai là lợi tha, có nghĩa là bất cứ một xuất sử nào của tam nghiệp đều phải có thêm ý nghĩa thứ hai nó mới thật sự là trọn vẹn.

Đó là anh làm cái gì lúc nào cũng phải tính đến thiên hạ.

Thí dụ như bây giờ ở trong chùa mình trồng một cái bông, mình cân nhắc mình trồng một cái bụi bông, mình trồng cái bông đó không phải là cho mình. Hoặc trong nhà mình, mình trồng cái bông đó không phải là cho mình, mà mình nghĩ rằng cái bụi này nó lớn lên, cây nguyệt quế, dạ lý mà đêm đêm, người đi ngang chỗ này sẽ nghe mùi thơm.


Cũng giống như bản thân tôi. Từ hồi bé không hiểu vì sao, tiền kiếp như thế nào, mà tôi đặc biệt tôi yêu cái mùi hoa sứ trắng. Yêu lạ lắm, tôi yêu cái mùi sứ trắng, hoa sứ trắng. Mùi thứ hai là mùi hoa lài. Chứ còn mà dạ lý với lại nguyệt quế tôi chịu không nổi, nó hắt, nó nồng lắm. Về Kalama tui sẽ trồng hai cái loại đó, hoa sứ trắng, cái mùi sứ trắng với mùi hoa lài. Loại thứ ba nữa đó là nó xấu, ta nói nó xấu như là Trương Chi mà tui mê nó còn hơn mê Mỵ Nương nữa. Đó là cái hoa ngọc lan. Không biết quý vị có biết cái hoa đó hông? Cái hoa đó, trời ơi, cái cây nó xấu, xấu quằn xấu quại, xấu đau xấu đớn, mà nguyên cái chùm bông nó nhìn như lá vậy đó, mà nó thơm, nó thơm ngọt lắm quí vị, thơm nó thơm ngọt lắm. Đấy, thì khi mà mình chỉ hạ thổ mình trồng một cái cây, mình có nghĩ rồi đây những người đi ngang đây đêm hôm, họ ngồi dưới gốc cây này họ sẽ được thoải mái. Thì đó, chánh tinh tấn là vậy đó. Nó phải hội đủ hai ý nghĩa, một là tự lợi, hai là lợi tha. Chuyện lớn chuyện bé gì cũng phải nghĩ đến hai điều đó, tự lợi và lợi tha.

Như vậy thì cái đời sống mình mỗi phút trôi qua đều có giá trị tuyệt đối, có những người họ chỉ nghĩ đến chuyện tự lợi họ không nghĩ tới người khác. Cái chuyện mà mình vun xới cho người khác thật ra nó cũng là một kiểu vun xới cho bản thân, quí vị biết không? Người không học đạo không biết chỗ này. Mình ăn rồi mình cứ cắm đầu lo cho mình, vợ chồng mình, con cái mình, gia đình mình, dòng họ mình, gia tộc mình. Nhưng mà mình quên một chuyện khi mình nghĩ đến người khác cũng là mình đang nghĩ về mình đó.

Đó gọi là chánh tinh tấn.

Trích bài giảng KTC.7.3 Sức Mạnh
Kalama xin tri ân bạn elteetee ghi chép

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2021

1. Kinh Pháp Môn Căn Bản

 



1. Kinh Pháp Môn Căn Bản
(Mùlapariyàya sutta)


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc), dưới gốc cây Sa-la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!". - "Bạch Thế Tôn", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo. Ta sẽ giảng cho các Người "Pháp môn căn bản tất cả pháp". Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 

(Phàm phu)

-- Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại. 

Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại. 

Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: "Hỏa đại là của ta"- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại. 

Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: "Phong đại là của ta"- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại. 

Người ấy tưởng tri Sanh vật là Sanh vật... Người ấy tưởng tri chư Thiên là chư Thiên... Người ấy tưởng tri Sanh chủ là Sanh chủ... Người ấy tưởng tri Phạm thiên là Phạm thiên... Người ấy tưởng tri Quang âm thiên là Quang âm thiên... Người ấy tưởng tri Biến tịnh thiên là Biến tịnh thiên... Người ấy tưởng tri Quảng quả thiên là Quảng quả thiên... Người ấy tưởng tri Abhibhù (Thắng Giả) là Abhibhù... 

Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ là Không vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Thức vô biên xứ là Thức vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Vô sở hữu xứ là Vô sở hữu xứ... Người ấy tưởng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ... 

Người ấy tưởng tri sở kiến là sở kiến... Người ấy tưởng tri sở văn là sở văn... Người ấy tưởng tri sở tư niệm là sở tư niệm... Người ấy tưởng tri sở tri là sở tri... 

Người ấy tưởng tri đồng nhất là đồng nhất... Người ấy tưởng tri sai biệt là sai biệt... Người ấy tưởng tri tất cả là tất cả... 

Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn. 

(Vị hữu học)

Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... Sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả... 

Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.

(Bậc A-la-hán - I)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri Niết-bàn".

(Bậc A-la-hán - II)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

(Bậc A-la-hán - III)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

(Bậc A-la-hán - IV)

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

(Ðấng Như Lai - I)

Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri địa đại.

Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri Niết-bàn.

(Ðấng Như Lai - II)

Này các Tỷ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của Ta" -- không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác."

Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn. [*]

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt


[*] Dựa theo các bản dịch Anh ngữ của Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Thanissaro, đoạn cuối nầy dịch là:

"Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn."
("That is what the Blessed One said. Displeased, the monks did not delight in the Blessed One's words." -- Bhikkhu Thanissaro
"That is what the Blessed One said. But those bhikkhus did not delight in the Blessed One's words." -- Bhikkhu Nanamoli and Bhikkhu Bodhi)

Thật ra, trong bản dịch năm 1986, Hòa thượng Minh Châu có chú thích phần này ở cuối bài kinh (trang 19, Trung Bộ Kinh tập I, ấn bản 1986):

"... Các Tỷ kheo  không có hoan hỷ khi nghe kinh này, các vị này ngu si và tự hào mình sáng suốt như đức Phật. Rồi đức Phật giảng Mùlapariyàyajàtaka để làm cho các vị này hết kiêu mạn. Sau đức Phật giảng kinh Gotamakasutta (A. i. 276) và các vị này chứng quả A-la-hán..."

Xin xem thêm phần giới thiệu bằng Anh ngữ ("Translator's Introduction") dưới đây để hiểu rõ sự khác biệt đó (và quyển "The Discourse on the Root of Existence", Bhikkhu Bodhi, Buddhist Publication Society, Sri Lanka, 1980).


Chân thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. 
(Bình Anson hiệu đính, tháng 8-1999, dựa theo bản Anh ngữ "The Middle Length Discourses of the Buddha", Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995).
Hiệu đính: 10-06-2004

Tại sao phải tu hơi thở ?


Tại sao lại phải tu hơi thở? 


Bởi vì hơi thở là hiện tượng lý tưởng nhất để ta nhận ra hoạt động và sự tồn tại ngắn ngủi của thân tâm. Không một hoạt động nào của cơ thể lại thường trực và dễ nhận ra như hơi thở. Ví dụ tuần hoàn của máu huyết thì tuy là liên tục và thường trực nhưng làm sao mình cảm nhận được? Còn những tư thế sinh hoạt như ăn uống, nằm ngồi, đi đứng, nhai nuốt, gãi vuốt, chà xát, cầm lên để xuống, tiểu tiện, tắm giặt,… thì lúc có lúc không. Chỉ có hơi thở. Hơi thở là hoạt động thường trực nhất mà dễ nhận ra nhất trong người mình. Còn những cái kia thường trực mà khó nhận ra.


Chỉ quan sát hơi thở thì ta mới toàn tâm toàn ý dốc hết sự chuyên chú vào đề mục, vào tấm thân này cùng với những biến chuyển tâm lý đi kèm. Đây! Tôi đang thở ra bằng sự hờn giận. Đây! Tôi đang thở ra bằng sự ghen tuông, sợ hãi, tiếc nuối, áy náy, ray rứt, thao thức, trăn trở… Không có hiện tượng nào trong cơ thể của mình lý tưởng hơn hơi thở. Quý vị tìm cho tôi đi. Những hoạt động thường trực khác là quá sâu kín, quá trìu tượng. Chỉ có hoạt động hơi thở là cái mình có thể theo nó, dựa vào nó để nhận ra thân tâm này, bản chất của nó ra sao. Tức là dựa vào hơi thở mình mới thấy được "À, thì ra sự tiếp nối buồn và vui liên tục như vậy, sự tiếp nối của cảm giác dễ chịu và khó chịu liên tục như vậy." Không quan sát hơi thở thì chúng ta khó bề mà nhận ra được sự biến chuyển liên tục, thường trực, thường xuyên của tấm thân này. Chỉ quan sát hơi thở.


Quan sát tâm thì lại là đề mục khác. Trong bài kinh này Đức Phật nhìn căn cơ của những vị Tỳ kheo đang ngồi trước mặt mà Ngài giảng về đề mục thân hành tùy niệm. Ở một chỗ khác, thì Ngài lại dạy quán thân quán thọ, quán pháp. Nhưng ở đây, ngay chỗ này, Ngài nói về thân hành niệm.


Một lần đó Đức Phật và chư tăng sau một chuyến du hành hoằng hóa lâu ngày, chuyến đi đường xa trở về chùa Kỳ Viên. Buổi chiều đó chư tăng ngồi với nhau. Các vị phàm tăng nhắc lại chuyến đi. Một vị thích hồ thì nói rằng: “Ở yên một chỗ đâu ngờ trên đời này lại có những cái hồ đẹp vậy.” Vị thích rừng thì nói: “Đâu ngờ trên đời lại có những cánh rừng đẹp vậy.” Có vị thích suối, thích hoa, thích ong bướm, có vị thích ngã ba sông bát ngát, những cánh đồng ngút mắt. Đức Thế Tôn từ hương thất bước qua giảng đường, ở đó lúc nào cũng có chỗ ngồi sẵn cho Ngài, Ngài bước vào ngồi xuống và hỏi: “Các ngươi đang bàn chuyện gì?” Câu chuyện bị gián đoạn bởi sự có mặt của Như Lai. Chư tăng thưa họ đang nhắc lại những nơi chốn đã đi qua. Đức Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo, không có vùng đất nào đáng để chúng tay lưu tâm chú ý cho nhiều bằng cái thân này, cái tâm này. Thân tâm này chứa hết vũ trụ trong đó, siêu đọa hay giải thoát mai sau đều nằm hết ở đây”. Tức là mai này mà mình có thành Bill Gates hay Steve Jobs, có giàu, có giỏi, có tiếng tăm, hay vô danh, nghèo đói dưới gầm cầu, mái hiên hay con giòi, con bọ dưới cống, hay phạm thiên trên các cõi, thì tất cả các điều đó đều khởi đi từ thân tâm này. Có đúng không?


Bây giờ tự nhiên có người ăn rồi là chui vô một góc ngồi hít thở. Khi nào có dịp bố thí thì đi bố thí, có dịp đi phục vụ thì đi phục vụ, có dịp nghe pháp thì đi nghe pháp. Còn hễ không chuyện gì thì liền chạy về góc ngồi lim dim. Đời sống người đó nhìn thì có vẻ hình như hơi bị hâm, không bình thường. Nhưng mình đâu có ngờ người đó đang từng ngày từng ngày làm 2 chuyện sau đây: Một là đang đổ nhựa cho con đường giải thoát, mai này chiếc xe của họ cứ lăn bánh mà đi thôi. Hai là trong thời gian chờ đợi giải thoát thì họ đang kiến tạo những khu vườn, những lâu đài, hồ nước, hoa viên cực đẹp mà mình không ngờ. Bởi vì họ đang tu. Cứ quởn là ngồi thiền chỉ, thiền quán. Còn có dịp thì bố thí, phục vụ, nghe pháp. Quý vị tưởng tưởng đó có phải là kiểu sống đang đổ nhựa cho đường giải thoát, đang âm thầm xây những lâu đài hoa viên cho kiếp sau không? Chính xác là đúng! Thay vì bàn bạc về phong cảnh này phong cảnh kia thì họ quay về với tấm thân này và họ xử lý nó. Họ đã ngẫu nhiên, tình cờ, âm thầm kiến tạo ra cảnh giới cho họ có mặt mai này trong thời gian họ trên đường giải thoát sinh tử. Qua thân hành niệm, hành giả mở ra con đường giải thoát và âm thầm kiến tạo những lạc cảnh tuyệt vời cho mai sau.


Xưa nay ta chỉ cử động theo ý thích nên ta sống thất niệm, phóng dật, lúc buồn lúc vui không kiểm soát. Sinh hoạt kiểu đó một tỉ năm cũng chỉ là tạo nhân sanh tử. Nay biết pháp môn thân hành niệm, ta thở ra thở vào cũng là thở công đức, đi đứng nằm ngồi bằng niệm và tuệ đều là hoạt động công đức. Mỗi nhúc nhích đều là công đức. Phải tin như vậy, có chết cũng phải hiểu như vậy. Bởi vì niệm và tuệ là tâm lành. Nếu đủ duyên thì chứng thánh ngay đời này. Còn chưa đủ duyên thì đi cầu cũng là công đức. Chải tóc, rửa mặt, lau mặt, xức dầu,... tất cả đều là công đức. Vì sao? Vì mình sống bằng niệm.


Hôm nay mình học thân hành niệm mới thấy cái đề mục này sâu lắm. Nghĩa là từ khi có được cái pháp này, thì có dịp mình vẫn đi bố thí. Bố thí là vitamin C, còn trì giới là calcium, còn những công đức khác là vitamin B1, B6, B12. Mình không thể nào lấy thuốc bổ này thay thuốc bổ kia được. Thân hành niệm nói riêng, và tứ niệm xứ nói chung là tu tập đường tuệ học. Nhưng mà không phải vì vậy mà mình bỏ lơ những cái khác. Cả vitamin C và calcium đều là những thứ cần thiết. Nhưng mình còn cần bao nhiêu thứ khác nữa, còn cần sắt, magnesium nữa chứ.


Có dịp thì vẫn đi tụng kinh, đi lễ Phật, vẫn nghe pháp, bố thí, vẫn phục vụ người khác, vẫn quét tước, dọn dẹp, rửa chén như bình thường. Nhưng tất thảy những hoạt động lớn nhỏ đều được diễn ra trong chánh niệm. Như vậy thì lúc bấy giờ hít thở cũng là công đức. Gãi lưng, vuốt tóc là công đức. Đi cầu không giúp ai mà cũng là tạo phước. Tôi nói hơi toẹt móng heo như vậy nhưng phải nói như vậy. Vì tất cả đều làm trong chánh niệm. Cái gì làm trong chánh niệm thì cái đó là công đức.


Khi anh sống trong chánh niệm thì thế giới biến đi một mầm loạn. Đó là vô úy thí . Nhắc lại có 3 loại thí: tài thí là cho vật chất, pháp thí là chia sẻ kiến thức phật pháp, vô úy thí là khiến mình không còn là mối đe dọa cho bất cứ ai.


Quý vị đừng có nói rằng quý vị tay yếu chân mềm, xưa nay quý vị nhút nhát không có lòng hại ai nên quý vị không là mối đe dọa cho ai. Hãy bỏ tư tưởng đó đi vì nó rất là sai. Quý vị có ốm yếu, thiếu máu, kiệt sức nhưng nếu quý vị có cái tật nói xấu, nhiều chuyện, nói đâm thọc người khác thì quý vị đã là mối họa cho nhiều người rồi. Quý vị có thể hoàn toàn khiến cho người ta tan nhà nát cửa bằng một cái email, một cú phone, một tin nhắn. Biết bao nhiêu người đã tự tử vì kẻ khác lấy hình họ đăng trên facebook, để họ nhục mà tự tử chết. Khi thân nhau thì kể cho nhau nghe những bí mật, lúc ghét nhau thì khai quật bí mật của nhau. Vì vậy mình đừng nói rằng sống chánh niệm là vô nghĩa với tha nhân. Kiểu sống chánh niệm tự thân nó đã là vô úy thí, là một pháp bố thí, vì người sống chánh niệm khiến mình trở nên vô hại đối với thiên hạ.


Trích bài giảng Kinh Tăng Chi số 023


Sư Giác Nguyên

Chủ Nhật, 18 tháng 4, 2021

Tu Đúng

 

Tu Đúng


Đừng nghĩ ta già, ta chết, ta sẽ đi đầu thai. Nghĩ vậy là sai bét. Vì kiếp sau của bạn có thể là ngày mai, có thể chiều nay, có thể lát nữa. Cái suy nghĩ kiếp sau nghĩa là đằng sau cái chết, mà cái chết lại là đằng sau tuổi già là rất sai. Chắc gì mình đã chết khi mình già.


Tóm lại: Mình sống như thế nào thì có nghĩa là chúng ta kín đáo xây dựng cho mình 1 thế giới cho kiếp sau. Kiếp sau ấy không phải là đến khi chúng ta đã già, không cần phải trải qua một cơn bạo bệnh, không cần phải trải qua những năm tháng liệt giường, liệt chiếu. Kiếp sau có thể là ngay bây giờ.


Trong Kinh dạy chúng ta có 3 lý do để chúng ta liên tục sống chánh niệm:


Không biết chúng ta sẽ chết lúc nào

Không biết được cơ hội đắc đạo của chúng ta là khi nào

Khi mình thất niêm, khả năng tạo ác nghiệp của mình cực lớn

Tôi nhắc lại: Chúng ta luôn luôn tu hành bằng tâm rất là tiểu thừa, nghĩa là luôn tu với cái tâm mặc cảm: tôi là người vô duyên, thiếu phước, giờ tôi phải vun bồi phước báu để kiếp sau tôi đắc. Cái kiểu tu này rất là sai vì kiếp trước mình đã tu bao nhiêu mình không biết. Cho nên vun bồi ba la mật không bằng phát huy ba la mật.


Có 5 điều kiện để đắc đạo trong đời này:


1. Có sức khỏe tốt

2. Có nền tảng cơ bản kiến thức giáo lý

3. Có thầy bạn tốt

4. Có trú xứ thích hợp

5. Hành thiền liên tục.


Năm cái này mình làm được cho thấy rằng ba la mật của mình cũng không đến nỗi xoàng. Trong Kinh Trường Bộ, đoạn cuối bài Kinh Tứ Niệm Xứ có đoạn “Này các tỳ kheo, một người tinh tấn tu tập Tứ niệm xứ này thì lâu nhất là bảy năm, nhanh nhất là bảy ngày sẽ chứng đắc được hai quả: Alahan và Anaham.”


Hồi đó nghe đoạn này tôi rất shock vì tôi nghĩ: "Ủa, sao đắc khó vậy mà Ngài nói chắc chắn vậy?" Nhưng đến khi già tôi mới hiểu: "Không dễ gặm đâu. Đó là một cách nói mẹo."


Quý vị nghe kỹ điều này: Nếu tu đúng bốn niệm xứ này thì chậm lắm bảy năm cũng đắc. Cho đến khi già mình nghiệm ra: Ba la mật yếu làm sao mà có thể tu đúng trong bảy năm được? . Tu đúng là rất mệt vì chín mươi chín phần trăm người tu thiền Tứ niệm xứ đều có cái hiểu lầm vô cùng lớn này: Tất cả đều quán chiếu danh sắc từ vị trí TÔI. Tôi đang thở ra, tôi đang thở vào, Tôi đang có tâm thiện, Tôi đang có tâm bất thiện, lúc này chánh niệm của tôi tốt, v.v...


Cho nên có một câu chuyện là một anh say rượu cầm một cái búa rất to vào phòng đập nát tất cả mọi thứ nhưng có duy nhất một thứ anh ta không đập được chính là cái búa.


Mình tu thiền là mình đập tan hoang hết (sắc, tài, tiền, danh lợi …), mình thấy cái nào cũng vô thường chỉ có cái thằng đang tu này là thứ thiệt thôi! Tức là nó quán chiếu tam thiên, đại thiện, ba đời mười phương đều vô ngã, vô thường. Nó nói nghe đã lắm nhưng cuối cùng cái thằng này là thằng ngon lành nhất, cả cái thiền đường này không có ai tu tốt bằng thằng này đó. Chết ngay là ở chỗ này. Chín mươi chín phần trăm người ba la mật yếu không làm được chuyện đó, không làm được chuyên nhìn mình như nhìn người khác.


Có những chuyện mình làm không thấy kỳ mà nhìn người ta làm mình lại thấy kỳ. Ví dụ thấy người ta ăn uống nhồm nhàm thì không thấy đẹp nhưng chính mình đang ăn vậy thì lại không thấy.


Nên chín mươi chín phần trăm người tu Tuệ quán phải tập cho được cái này. Trong Kinh nói đối với Tứ Đế phải suy nghĩ và phải hiểu như sau:


"Chỉ có sự khổ chứ không ai chịu khổ;

Chỉ có nguyên nhân tạo ra khổ chứ không có ai tạo ra khổ;

Chỉ có sự thoát khổ chứ không có người thoát khổ;

Chỉ có con đường thoát khổ chứ không có kẻ hành trì con đường ấy."

Cái này rất là sâu. Phải có một ngày bà con thấy rằng lại có tâm tham xuất hiện và rồi lại có nguyên nhân khổ. Thấy vậy là đủ rồi chứ đừng có tư tưởng "tôi" đang bị tham, "tôi" đang bị khổ. Cái đó rất là kẹt.


Trong Kinh ghi rất rõ: Khi một hành giả đang bị bệnh chỉ có hai cách quán chiếu như sau: "Tôi đang bị đau" hay là "Cơn đau đang có mặt."


Cách thứ hai tốt hơn vì theo cách thứ hai thì cơn đau dừng lại ở cái đau, không có thêm nữa. Còn cách thứ nhất thì cơn đau bị nhân đôi. Đau rồi còn có TÔI đau nữa (Đau tâm lý và Đau sinh lý). Có học A Tỳ Đàm chúng ta sẽ thấm cái này dữ lắm.


Đêm qua tôi nhận được một cú phone từ Việt Nam, có một Sư cô mất do ung thư, người gọi điện là người em, cũng là một ni. Trước khi mất Sư cô có nói một câu dặn lại cho mấy chị em cùng là ni cô: "Không thể tu chơi chơi được. Phải tu rốt ráo nếu không lúc này chịu không nổi."


Trích bài giảng Vài nét tiêu biểu về chúng sanh và vũ trụ.


Sư Giác Nguyên

Làm Chủ Cảm Thọ


👆☺ Làm Chủ Cảm Thọ

Trong kinh nói kẻ phàm phu bị đau hai lần còn bậc thánh chỉ đau có một nửa. Bậc thánh khi đau, ngoài khả năng kham nhẫn bằng thiền định bằng thánh trí ra thì bậc thánh không hề thêu dệt cái khổ như phàm phu. Còn phàm phu thì sao? Thứ nhất không có khả năng thiền định chánh niệm như thánh nhân là thấy mệt rồi. Thứ hai là phàm phu khổ gấp đôi, là bản thân nó bị khổ là khổ thân mà còn thêm cái bị khổ tâm nữa. Muốn hết bịnh mà nó không chịu hết là bắt đầu lo. Bậc thánh khi bị đau thận chẳng hạn, bậc thánh chỉ biết đau là đau. Còn mình thì bắt đầu lo, bắt đầu sợ chết, bắt đầu mình tiếc của. Mình biết khi cái đầu mình nó lệch ngang thì mình bỏ lại bao nhiêu thứ tình cảm: cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè... "Trời ơi, đất nước người ta đẹp quá. Trời ơi, mình còn bao nhiêu toan tính, bao nhiêu trù hoạch, bao nhiêu kế sách mà chưa có hoàn thành. Trời ơi, bây giờ mình đi sớm quá." Trong khi cái đau nó chỉ là một phần cơ thể, mà cái nỗi lo âu, tiếc nuối, sợ hãi kia nó gấp mấy lần cái đau đó, quý vị có biết không? Khổ của kẻ phàm phu khác của bậc thánh là ở chỗ đó. Cho nên ngay trong cảm thọ đã là khổ. Ngay trong ước muốn trốn khổ tìm vui nó lại cũng là một cái khổ nữa.

Cho nên trong kinh nói bậc thánh chỉ khổ có một nửa, mình thì khổ gấp đôi. Một nửa là sao? Nghĩa là mỗi lần người ta bị đau người ta phải rên, phải xiết, phải sợ hãi, phải này nọ. Các Ngài thì không. Đau trên thân xác các ngài chỉ dừng lại ngay trên thân xác, các ngài không cho nó leo qua cái tâm của các ngài. Còn mình thì đau một mà cho nó leo tràn lan từa lưa.

Thí dụ ban đêm đang ngủ tự nhiên nghe nó nhói. Nhói một lần là mình đã hơi ngại rồi mà cứ nhói nhói nãy giờ mười lăm phút nhói rồi. Thế là bắt đầu mình nghĩ bậy. Nghĩ nào là ung thư, nghĩ nào là ruột dư, nào là sạn thận, nào là chai gan nào, là viêm tụy tạng, ... tùm lum hết. Nghĩ quá nhiều, suy diễn quá nhiều, là vì sao? Vì mình sợ chết. Mà tại sao mình sợ chết? Là bởi vì mình sợ mất cái này sợ mất cái kia. Cho nên cần làm chủ cảm thọ. "Làm chủ" ở đây có nhiều người hiểu sai. Họ nghĩ làm chủ cảm thọ là bậc thánh không có đau. Sai. Làm chủ cảm thọ ở đây có nghĩa là coi tất cả các cảm giác chỉ là khách. Làm chủ cảm thọ ở đây không có nghĩa là không còn đau đớn muốn sướng thì sướng không phải. Bậc thánh không phải như vậy. Làm chủ ở đây có nghĩa là chỉ xem các cảm giác như là khách lạ bên thềm. "Làm chủ" ở đây là các ngài ngồi yên nhìn nó tới. Khó chịu biết khó chịu. Gió mát tới biết dễ chịu. Ngồi trong phòng đang nực, mở máy lạnh lên thì các ngài biết bây giờ mát, biết lạc thọ đang có mặt. Ngoài ra không có gì thêu dệt thêm. Rồi tiếp tới cơn đau đớn trong cơ thể nó tới thì các ngài biết "Ừ cơn đau đang có mặt, khổ thọ đang có mặt". Hoặc theo một cách quán chiếu khác: "Khổ thọ vô thường vừa đã xong". Cách quán chiếu kỳ cục vậy đó. Khi mà mình quán chiếu khổ thọ đang có mặt tuy không có sai nhưng mà nó hơi muộn. Phải quán khổ thọ vừa vắng mặt. Bởi vì khi mà mình thấy nó thì cái khổ đã mất rồi. Nhớ đó. Cái này phải ghi lại.

Bất cứ cái khổ nào, cái niềm vui nào, sự sung sướng nào mà ta thấy được nó là nó đã mất và cái khác đang hiện hữu.

Bởi thì theo A tỳ đàm thì không bao giờ có cái gì trên đời này tồn tại quá 1 sát na (1). Đó là chuyện thứ nhất. Chuyện thứ hai là không bao giờ có hai cái tâm cùng lúc tồn tại, cho nên cái này đi mất thì cái kia mới tới. Nên khi tôi đau tôi biết rằng tôi đang đau, cái đau mà tôi biết đã trở thành quá khứ rồi. Và cái tâm mà tôi biết đang đau đó vừa xuất hiện nó cũng biến mất. Nó nhanh như vậy đó, thưa quý vị.

Và vì hôm nay chúng ta chỉ học trên mặt lý thuyết cho nên chúng ta không có thấm. Chứ nếu một ngày nào đó chúng ta là hành giả, chúng ta sống hết mình với cái điều mà tôi vừa nói, thì lúc đó sự dính mắc ở trong sáu trần ít đi nhiều lắm. Và từ đó dẫn đến chuyện mình bớt khổ nhiều lắm. Và từ cái chuyện bớt dính mắc mình sẽ bớt sợ chết.

Tại sao anh sợ chết? Vì anh sợ mất. Nói thẳng luôn: một là anh sợ mất; hai là anh mịt mù anh không biết anh sẽ đi về đâu? Tai sao anh sợ hãi khi không biết đi về đâu? Là vì mình sợ khổ ở trong một cảnh giới nào đó. Mình không còn sung sướng như bây giờ nữa. Nói ví dụ: Bây giờ tài khoản của mình ở trong nhà băng đã lên 36 tỉ đồng Việt nam rồi, mình có mấy chiếc xe, con cái mình gửi qua Úc, qua Mỹ học hết rồi, tương lai đang sáng ngời, mình đang chờ bồng những đứa cháu nội cháu ngoại bụ bẫm kháu khỉnh. Mà đùng một phát vô bệnh viện là mấy cái này mất sạch! 36 tỉ đó là đứa khác nó xài, cháu nội, cháu ngoại có những đứa khác nó bồng. Rồi mai này những đứa con, những đứa cháu tốt nghiệp đại học về ai đón nó ở phi trường đây? Bao nhiêu người mơ ước được 1% những gì mình có mà không được. Bao nhiêu kẻ bây giờ đang khổ cực bán vé số, bán bánh mì, bán dạo buôn gánh bán bưng, bán chè bán cháo đầy đường, vậy mà họ sống trơ trơ. Còn mình giờ đây những thứ mình có mà một sớm mai hồng mình phải lìa bỏ tất cả. Lòng nào mà cam cho nổi?

Trích bài giảng ngày 29/05/2019 KTC.6.63. Pháp Môn Quyết Trạch

SƯ GIÁC NGUYÊN THUYẾT GIẢNG

(1) Sát na: Phạn: Kwaịa. Pàli: Khaịa. Hán dịch: Tu du (刹那), Niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát. 60 - 65 sát na tương đương với một cái khảy móng tay. 90 sát na được coi như một niệm (ý nghĩ).
Kalama xin tri ân bạn chanvinghiem ghi chép.

Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2021

KHEN CÁI ĐÁNG KHEN, CHÊ CÁI ĐÁNG CHÊ




Khen chê ở đây là nhận thức trong tâm khảm chứ không phải khen chê bằng miệng. 

- Khen, mean in the khảm khảm mình nhận đây là cái phải học, phải theo, phải bắt buộc, phải kính trọng. 

- Chê, nghĩa là trong tâm khảm của mình nhận thức, đây là cái phải tránh, phải né, phải trừ diệt, phải loại bỏ. 


Và “nhận thức trong tâm khảm” ở đây là không hề có ý kiến. Thấy người ta sống bất thiện, mình ghi nhận này sống, nên tránh chứ không đánh giá con người đó, vì có con người mà đánh giá, chỉ có thiện chí và ác tính mà thôi. Người tu hành không có khen chê ai hết vì làm gì có ai để khen chê, chỉ có danh sắc, chỉ có thiện chí mà không vui mà thôi. Làm gì có người để mình 'coi thường'; và chữ 'coi thường' ngay lập tức là sai rồi, trong thiện pháp làm gì có động từ 'coi thường'. Vì vậy, những chuyện đầu tiên là không có ai đáng coi thường, và cả động từ 'coi thường' là bất thiện rồi. Và khen chê không phải bằng miệng, vì chúng ta tu tâm chứ đâu phải bằng miệng.


Nói chung, chữ 'khen chê' theo ngôn ngữ đời thường là tuốt luốt. Danh sắc phù du có mất đấy, thiện ác vui vẻ thay đổi cho nhau thành cuộc sống hiện hữu mong manh của mỗi người, vì vậy dựa vào đâu mà coi thường người khác, làm gì có 'người' để coi thường, chỉ có thiện thiện buồn vui mà thôi. Thiện đời này là nhân vui đời sau, đời này là nhân đời sau, vui đời này là kết quả tốt lành của đời trước, đời này là kết quả của đời trước, những điều này phải học thuộc lòng vì chúng ta sẽ chuyển sang suốt một đời. Cứ nhớ rằng ta chỉ là thiện ác buồn vui, mỗi lần có bất thiện xuất hiện thì ta biết rằng đây là nhân khổ đời sau, Thấy có thiện tâm xuất hiện thì biết đây là nhân vui đời sau, thấy có sự khó chịu xuất hiện thì biết đây là kết quả xấu đời trước, thấy có sự dễ chịu thân tâm thì đây là kết quả đời trước. Suốt ngày thấy mình ngoáy trong thiện ác vui, chỉ là sự tương quan giữa nhân quả mà ta mới có thể hiện chủ, tồn tại, có mặt trên đời này, cho đến bao giờ có trí tuệ Bốn Đế, ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - khổ đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn là đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. thấy có sự khó chịu thì mới biết đây là kết quả đời trước, thấy có sự dễ chịu thì mới biết đây là kết quả đời trước. Suốt ngày thấy mình ngoáy trong thiện ác vui, chỉ là sự tương quan giữa nhân quả mà ta mới có thể hiện chủ, tồn tại, có mặt trên đời này, cho đến bao giờ có trí tuệ Bốn Đế, ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - khổ đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn là đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. thấy có sự khó chịu thì mới biết đây là kết quả đời trước, thấy có sự dễ chịu thì mới biết đây là kết quả đời trước.


Suốt ngày thấy mình ngoáy trong thiện ác vui, chỉ là sự tương quan giữa nhân quả mà ta mới có thể hiện chủ, tồn tại, có mặt trên đời này, cho đến bao giờ có trí tuệ Bốn Đế, ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - khổ đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn là đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. thấy có sự dễ chịu thì biết đây là kết quả tốt lành trước đó. Suốt ngày thấy mình ngoáy trong thiện ác vui, chỉ là sự tương quan giữa nhân quả mà ta mới có thể hiện chủ, tồn tại, có mặt trên đời này, cho đến bao giờ có trí tuệ Bốn Đế, ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - khổ đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn là đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. thấy có sự dễ chịu thì biết đây là kết quả tốt lành trước đó. Suốt ngày thấy mình ngoáy trong thiện ác vui, chỉ là sự tương quan giữa nhân quả mà ta mới có thể hiện chủ, tồn tại, có mặt trên đời này, cho đến bao giờ có trí tuệ Bốn Đế, ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - khổ đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn là đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. cho đến bao giờ có trí tuệ chứng minh bốn Đế, chúng ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn còn đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa. cho đến bao giờ có trí tuệ chứng minh bốn Đế, chúng ta thấy rằng buồn, hay vui, miễn là có mặt là khổ - đế; đam mê cái gì đi nữa, miễn còn đam mê là đam mê trong khổ đế; but đam mê trong khổ đế còn tiếp tục cưu mang khổ qua; muốn hết khổ thì đừng thích nó nữa.


Có một Phật tử đến thăm một vị thiền sư và nói: 

“Bạn muốn hạnh phúc mà không được”. 

Vị thiền sư nói: “Trước hết hãy bỏ chữ Con đi, sau đó bỏ chữ Muốn, cái còn lại chính là Hạnh phúc”.

 

Chuyện khen chê ở đây cũng vậy, có ai để ta khen, có ai để ta chê? Chỉ cần ngay trong ý niệm: “Thưa thầy tôi muốn được hạnh phúc” thì ngay trong ý tưởng 'tôi muốn' đó, chữ 'tôi' đã sai rồi, và cái 'muốn' đó cũng sai rồi. Chuyện khen chê người khác cũng giống như bọt nước này bọt nước kia, làm gì có chuyện chuột chù chim cú, chỉ là cả hai khối danh sắc, không có gì đáng để đặt vấn đề khen chê.


Cho nên, vấn đề khen chê ở đây phải là trong tâm khảm, và kết lại: khen chê chính là nhận thức trong tâm khảm. Nhận thức đúng nghĩa là ta đang hiểu đúng. Có đúng thì mới có đúng. Có đúng hành động thì mới hy vọng có kết quả. Còn nếu ngay trong nhận thức mà chúng ta đã sai sót, không biết cái gì, theo cái gì, nên tránh thì ngay bản thân cái không biết đó là sai sót, thiếu sót. Sai sót cộng với thiếu sót thì làm sao có chuyện hiểu đúng và điều hành đúng. Nếu không hiểu đúng và thực hiện đúng thì làm gì có chuyện giải thoát, làm gì có thành tựu. Received bad path to the process bad, thì sẽ dẫn đến kết quả không đẹp.


Sư Giác Nguyên (Giảng)